logo

Nguồn phơi nhiễm chì và tình hình nhiễm độc chì ở trẻ em

25/10/2016

NGUỒN PHƠI NHIỄM CHÌ VÀ TÌNH HÌNH NHIỄM ĐỘC CHÌ Ở TRẺ EM

ThS. BS. Lỗ Văn Tùng

Chì là một kim loại nặng, có độc tính cao và ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe con người, đặc biệt là đối với trẻ em. Vì vậy nó được coi là một trong những độc chất gây ô nhiễm môi trường nguy hiểm loại 1 như asen (thạch tín), thủy ngân, cadimi (Розанов В. А. 2000).

Ở các nước đang phát triển, nhiễm độc chì ở trẻ em vẫn đang là vấn đề sức khỏe đáng quan tâm. Theo đánh giá của Tổ chức Y tế thế giới (WHO, 2010), các nguồn phơi nhiễm chì chính đối với trẻ em là:

- Xăng pha chì

- Hoạt động khai khoáng

- Sơn và bột màu pha chì

- Chì trong đồ hộp thực phẩm

- Chì trong men gốm sứ

- Nước nhiễm chì và đường ống dẫn có chì

- Chì trong chất thải điện tử

- Chì trong các thảo dược cổ truyền, trong thuốc dân gian, mỹ phẩm, đồ chơi

- Chì trong rác thải có chứa chì do bị thiêu hủy

- Chì trong chuỗi thức ăn do đất bị ô nhiễm

- Môi trường có tiền sử bị ô nhiễm do sản xuất công nghiệp.

 

1. Xăng pha chì

Trong một thời gian dài, xăng pha chì là nguồn phơi nhiễm chì chính đối với trẻ em. Việc cấm sử dụng xăng pha chì được coi là một bước quan trọng để giảm nồng độ chì máu trên toàn thế giới và được xem là một thành tựu lớn về y tế công cộng.

Tại Hoa kỳ, do sử dụng xăng pha chì, tỷ lệ trẻ em từ 1-5 tuổi có nồng độ chì máu >10 μg/dL vào cuối những năm 1970 chiếm khoảng 77,8%. Đến đầu những năm 1990 số trẻ em 1-5 tuổi có nồng độ chì máu >10 μg/dL đã giảm xuống còn khoảng 4,4%, mức chì máu trung bình của trẻ em trong thời gian 1999-2002 chì còn 1,9μg/dL (CDC, 2005).

Tại Trung quốc, từ năm 1990 đến 2009, mức chì máu của trẻ em 0-6 tuổi đã giảm từ 7-10μg/dL xuống còn 2,5-6μg/dL. Tỷ lệ trẻ em có chì máu > 10μg/dL đã giảm từ 30-50% xuống 1,5-15%. Chì máu trẻ em giảm được là do sự nỗ lực giảm ô nhiễm môi trường, trong đó có việc cấm sử dụng xăng pha chì (Chong huai Yan et al, 2013).

Tại Thái Lan, nhờ việc cấm sử dụng xăng pha chì mà trong giai đoạn từ 1984 - 1996 nồng độ chì trong không khí đã giảm. Nghiên cứu tại Chieng Mai trên 1000 trẻ em từ 6-72 tháng tuổi cho thấy nồng độ chì trung bình là 4,2μg/dL, chỉ có 4,6% trẻ em có nồng độ chì máu>10μg/dL (Shilu Tong et al, 2000).

Từ ngày 01 tháng 7 năm 2001, Việt Nam bắt đầu triển khai thực hiện sử dụng xăng không pha chì. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chính phủ, sự phối hợp chặt chẽ các Bộ ngành, địa phương và các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu trên thị trường Việt Nam lưu thông tiêu thụ duy nhất một loại sản phẩm: xăng không pha chì.

2. Chì trong sơn

Sau xăng pha chì thì sơn pha chì là một nguồn phơi nhiễm chì rất lớn đối với trẻ em. Nhiễm độc chì từ sơn pha chì đã được miêu tả từ những năm 1892 ở Australia. Những cảnh báo đầu tiên về nguy cơ phơi nhiễm chì đã được công bố trước đây hàng thế kỷ. Một số nước đã cấm sử dụng sơn pha chì, như Australia (1914), Hoa kỳ (1978) khi có đến 74% nhà ở tại Hoa kỳ có sử dụng sơn pha chì.

Đến những năm 2009, nguyên nhân chính dẫn đến nhiễm độc chì ở trẻ em Hoa Kỳ là do tồn dư chì trong sơn nhà ở trước đây, trong bụi và trong đất bên ngoài nhà. Để phòng chống nhiễm độc chì cho trẻ em, Hoa kỳ đã có lệnh cấm (1978) sử dụng các loại sơn có hàm lượng chì >0,06% (600ppm) để sơn đồ chơi, đồ dùng, tường nhà, các công trình xây dựng sử dụng cho mục đích công cộng. Tiêu chuẩn mới của Hoa Kỳ (2009) yêu cầu cấm các sản phẩm thiết kế cho trẻ em dưới 12 tuổi có hàm lượng chì >300ppm ở bất kỳ phần nào của sản phẩm (WHO, 2010).

Tại Australia việc hạn chế sử dụng chì trong sơn đã được khởi xướng từ đầu thế kỷ XX. Tại Nam phi, giới hạn nồng độc chì trong sơn dưới 600ppm đã được áp dụng từ năm 2009 (WHO, 2010).

Mặc dù Thái Lan đã cấm sử dụng sơn pha chì từ 2 thập kỷ trước, nhưng các mẫu của 5/7 nhãn hiệu sơn được kiểm tra có chứa hàm lượng chì rất cao, 30.000ppm (UNEP, 2009).

Ở nhiều nước có thu nhập trung bình và cao, titanium dioxide đã được sử dụng để thay thế chì trong sơn, nhưng người ta vẫn tìm thấy chì trong sơn và màu hiện đang sản xuất và bán trên thị trường (Clark et al., 2006, 2009). Ví dụ, hàm lượng chì cao được tìm thấy ở cả những ngôi nhà cũ và mới xây ở Nam Phi (Mathee et al., 2007). Một cuộc khảo sát về sơn màu được bán tại các cửa hàng ở Johannesburg và Cape Town cho thấy có 83% mẫu sơn có pha chì. Chỉ có 2/25 sản phẩm sơn có cảnh báo hàm lượng chì cao.

Tại Liên bang Nga, sơn nội thất có chứa chì đã bị hạn chế bởi các luật của Liên bang Xô viết trước đây và của Liên bang Nga trong thời gian gần đây. Nhưng các nghiên cứu độc lập cho thấy các loại sơn chứa chì có thể dễ dàng tìm thấy trên thị trường (WHO, 2010).

Nghiên cứu gần đây tại Trung quốc cho thấy 50% mẫu sơn mới có hàm lượng chì bằng hoặc cao hơn ngưỡng 600ppm. Tại Ấn Độ, nghiên cứu cũng cho thấy có 84% sơn màu có hàm lượng chì vượt ngưỡng 600ppm (WHO, 2010).

Năm 2009, một nghiên cứu về hàm lượng chì trong sơn được tiến hành tại 11 quốc gia đại diện cho các châu lục trên thế giới. Kết quả nghiên cứu cho thấy 50% số mẫu có hàm lượng chì vượt mức 600ppm, trong đó Sri Lanca có 45%, Philipines có 36%, Thái Lan có 30%, Tazania có 73%, Nam Phi có 62%, Nigeria có 100%, Senegan có 53%, Belarus có 50%, Mexico có 67%, Brazil có 28%, Ấn Độ có 31% mẫu với hàm lượng chì vượt 600ppm (Abhay Kumar, 2009).

3. Hoạt động khai khoáng và sản xuất công nghiệp

Hoạt động khai khoáng và sản xuất công nghiệp với sản phẩm liên quan đến chì là nguy cơ phơi nhiễm chì đối với trẻ em. Điển hình như ở bang Zamfara, Nigeria, hoạt động khai thác quặng vàng đã gây ô môi trường nghiêm trọng dẫn đến cái chết của 400 trẻ em (theo thống kê tháng 3/2010) do bị nhiễm độc chì. Kết quả xết nghiệm máu của các trẻ em sống sót cho thấy mức chì máu rất cao (Medicins sans frontieres, 2012).

Theo tổng hợp của Occupational Knowledge International (2012), nhiễm độc chì do hoạt động sản xuất khá phổ biến của các nước đang phát triển. Ở Trung Quốc, hàng loạt các vụ nhiễm độc chì ở trẻ em đã xảy ra. Tại tỉnh Côn Minh (2009) theo Trung tâm phòng chống nhiễm độc chì Côn Minh có khoảng 50-60% trẻ em dưới 14 tuổi sống vần các khu vực khai khoáng bị nhiễm độc chì. Năm 2009, hơn 1300 trẻ em của làng Văn Bình, tỉnh Hồ Nam có nồng độ chì máu cao do sống gần một nhà máy luyện mangan trái phép. 70% trẻ em được kiểm tra có nồng độ chì máu >10 μg/dL, 17 trẻ em bị nhiễm độc chì phải điều trị tại bệnh viện (OK international, 2012).

4. Sản xuất tái chế ắc quy và chất thải điện tử

Tái chế ắc quy chì là một hoạt động rất phổ biến trên thế giới đặc biệt là nước ở các nước đang phát triển do lượng ắc quy được sử dụng cho các phương tiện giao thông ngày càng gia tăng. Các cơ sở sản xuất thường có quy mô nhỏ, thiếu các công nghệ tiên tiến nên gây ô nhiễm môi trường rất nghiêm trọng. Nghiên cứu 3/1997 tại Cộng hòa Dominica trên 116 trẻ em sống gần khu vực tái chế ắc quy cho thấy, nồng độ chì trung bình là 71 μg/dL (9-234μg/dL). Sau khi có báo cáo về tình trạng nhiễm độc chì ở trẻ em, chính phủ đã đóng cửa các cơ sở tái chế chì. Kết quả kiểm tra chì máu sau 6 tháng cho thấy mức chì máu trung bình của trẻ em đã giảm xuống còn 32μg/dL (từ 6-132μg/dL), trong đó có 9% trẻ em có nồng độ chì máu dưới 10 μg/dL, 23% có nồng độ chì máu từ 10-19 μg/dL, 40% từ 20-39 μg/dL, 27% trẻ em có nồng độ chì máu từ 40-99μg/dL và vẫn có trẻ em có nồng độ chì máu >100μg/dL. Chì máu của trẻ em khu vực này cao hơn rất nhiều so với trẻ em sống ở vùng Barsequillo, cách xa các cơ sở tái chế ắc quy chì 6,4km. Nồng độ chì trung bình ở trẻ em vùng Barsequillo là 14 μg/dL, 42% trẻ em có nồng độ chì máu <10μg/dL, 32% trẻ em có nồng độ chì máu từ 10-19 μg/dL, 16% trẻ em có nồng độ chì máu 20-39μg/dL, chỉ có 10% trẻ em có nồng độ chì máu từ 40-99 μg/dL (Kaul et al., 1999). Tại Dakar, Senegan từ tháng 11/2007 đến tháng 3/2008 đã có 18 trẻ em bị tử vong liên quan đến các bệnh của hệ thống thần kinh trung ương. Nguyên nhân tử vong là do trẻ em bị nhiễm độc chì từ hoạt động tái chế ắc quy bất hợp pháp. Nghiên cứu trên 81 đối tượng trẻ em tại khu vực này cho thấy tất cả trẻ em này bị nhiễm độc chì, trong đó có những trẻ em bị nhiễm độc rất nặng. Mức chì máu của 50 trẻ em dao động từ 39,8 đến 613,9μg/dL.17 trẻ em có biểu hiện nhiễm độc thần kinh nghiêm trọng. Kết quả xét nghiệm chì trong nhà và đất ở khu vực sinh sống cho thấy bị ô nhiễm rất nặng (trong nhà 14.000mg/kg; bên ngoài nhà 302.000mg/kg) (Häfliger et al., 2009). Tại tỉnh Giang Tô, Trung quốc, một cuộc điều tra sơ bộ nhiễm độc chì do nhà máy sản xuất dây thừng thành phố Nam Thông cho thấy 28% trong tổng số 184 trẻ em sống gần nhà máy có nồng độ chì máu >10μg/dL. Tại thành phố Hechi tỉnh Quảng Tây (2012) 103 trẻ em sống gần cụm nhà máy luyện kim màu có nồng độ chì máu>10μg/dL. Tại thành phố Taizhu, tỉnh Chiết Giang (2011) 168 người, trong đó có 53 trẻ em sống xung quanh công ty sản xuất ắc quy bị nhiễm độc chì (OK Iternational, 2012).

Sự gia tăng trên phạm vi toàn cầu số lượng máy tính, điện thoại di động và các thiết bị điện tử khác cũng như chu kỳ sử dụng, thay thế chúng đã tạo ra một khối lượng lớn chất thải điện tử. Phần lớn các chất thải này được vận chuyển đến các nước có thu nhập thấp để tách chì, thủy ngân và các kim loại khác. Nghiên cứu tại Malina, Philipin trên những trẻ em từ 6-15 tuổi nhặt rác ở khu vực Smokey Mountain cho thấy mức chì máu tăng cao (28,4μg/dL), 68,2% trẻ nam và 58,2% trẻ nữ có mức chì máu >20μg/dL (Ide & Parker, 2005). Một nghiên cứu được tiến hành ở thành phố tái chế chất thải điện tử Guiyu trên 165 trẻ em (2007), số lượng trẻ em có mức chì máu ≥10μg/dl chiếm 81,8% (135 of 165). Theo kết quả một nghiên cứu khác tại Guiyu (2008) có 70,8% trẻ em (109/135) có mức chì máu ≥10μg/dl. Các tác giả cho rằng mức chì máu tăng cao ở trẻ em tại Guiyu là do ô nhiễm môi trường từ hoạt động tái chế các thiết bị điện tử có chứa chì (Liangkai Zgeng, 2008).

5. Chì trong đồ chơi trẻ em

Đồ chơi cũng là nguồn phơi nhiễm chì đối với trẻ em. Nguyên nhân là do đồ chơi được sơn bằng loại sơn chứa chì hoặc đồ chơi được làm bằng vật liệu chứa chì.

Theo nghiên cứu tại Hoa kỳ năm 2007, 35% trong số 1268 mẫu đồ chơi được xét nghiệm có chứa hàm lượng chì cao. Những đồ chơi có nồng độ chì trong đồ chơi > 600ppm được cho là mối nguy hại và cần phải thu hồi (USCPSC, 2001). Số lượng đồ chơi bị thu hồi lên tới hàng triệu, hầu hết các đồ chơi được nhập khẩu từ Trung quốc (Weidenhamer et al, 2007).

6. Chì trong men gốm sứ

Sử dụng men gốm sứ chứa chì là nguyên nhân gây ô nhiễm thực phẩm. Nghiên cứu ở Mexico cho thấy tần suất sử dụng đồ gốm sứ tráng men truyền thống, nung ở nhiệt độ thấp có liên quan trực tiếp đến tăng nồng độ chì máu ở trẻ em (Rojas-López et al., 1994). Sử dụng đồ gốm bị sứt mẻ, chứa thức ăn có tính axít làm cho chì từ men thâm nhập vào thực phẩm. Con cái của những người công nhân sản xuất gốm sứ thủ công có nồng độ chì trong máu cao hơn con cái của những người công nhân của ngành nghề khác.

17. Chì trong nước uống

Nước uống có thể bị nhiễm chì từ những mối hàn đặc biệt khi nguồn nước uống cố độ pH cao. Theo ước tính thì khoảng 20% lượng chì hấp thu hàng ngày của phần lớn dân số Hoa kỳ là do sử dụng nước ăn uống nhiễm chì (Russell Jones, 1989). Nước ăn uống ở các trường học công lập tại Seattle, Washington có chứa hàm lượng chì cao. Nguồn chì có thể có ngay cả trong các van sử dụng trong hệ thống cung cấp nước. Theo xét nghiệm năm 2004, hàm lượng chì trong nước cao hơn 20ppb (Perry N., 2005)

8. Chì trong thức ăn

Hơn 80% liều hấp thu chì hàng ngày là do thức ăn, bụi và các chất bẩn. Lượng chì trong thực phẩm nguồn gốc thực vật phụ thuộc vào mức độ ô nhiễm đất ở xung quanh các mỏ chì và cơ sở luyện chì (WHO, 2010).

9. Chì trong thuốc cổ truyền

 Các loại thuốc cổ truyền dân tọc của Ấn Độ, Trung quốc và một số nước khác ở châu Á cũng là nguồn tiềm năng gây nhiễm độc chì. Theo một loại thuốc thảo dược được sản xuất ở nam Á đã được phát hiện nhiễm chì từ 5-37,0mg/g (Saper R.B, et al, 2004). Tính tử năm 1978, 55 trường hợp nhiễm độc chì cấp tính liên quan đến sử dụng thuốc cổ truyền của Ấn Độ đã được ghi nhận ở Hoa Kỳ và một số nước khác (Lyn Patrick, 2006).

Một số loại thuốc cổ truyền có chứa chì như duyên phấn, ô duyên, mật đà tăng , duyên đơn.

Duyên phấn còn gọi là Bạch phấn, là khoáng vật chứa cacbonat chì (PbCO3) dùng để trị đau bụng giun sán, sốt, ghẻ, nấm, nhọt, việm niêm mạc miệng.

Ô duyên còn gọi là Duyên, chứa Sulfua chì PbS (86,6% Pb, 13,4%S) thường dùng để chữa chứng đàm khí ung nghịch, thượng thục hạ hư, khí doãn xuyễn cấp, ế ách, phân vị, ung bướu, tràng nhạc, nhọt , ghẻ lở.

Mật đà tăng là thứ bột màu vàng,thành phần chủ yếu là oxit chì PbO dùng để chữa trị các chứng như trĩ lở, thũng độc, mụn nhọt, lở loét, thấp sang, các vết thương, tả, lỵ, kinh giản.

Duyên đơn, còn gọi là Hồng đơn là ô xít chì Pb3O4 thường dùng làm cao dán nhọt, nấu với dầu gừng và phối hợp với một số vị thuốc khác đẻ giảm đau, làm nhanh lên da non.

Trong những năm qua, việc người dân sử dụng thuốc cam không có nguồn gốc chứa chì là nguyên nhân làm cho trẻ em bị nhiễm độc chì ở nhiều mức độ khác nhau, nhiều trường hợp phải nhập viện điều trị và để lại di chứng đối với phát triển thể chất và trí tuệ của trẻ.