logo

ĐIỀU TRA GÁNH NẶNG NHIỆT CỦA CÔNG NHÂN XÂY DỰNG TRONG MÙA HÈ Ở TRÙNG KHÁNH, TRUNG QUỐC

25/06/2021

ĐIỀU TRA GÁNH NẶNG NHIỆT CỦA CÔNG NHÂN XÂY DỰNG

TRONG MÙA HÈ Ở TRÙNG KHÁNH, TRUNG QUỐC

 Tóm tắt

        Bài báo nghiên cứu về gánh nặng nhiệt của công nhân xây dựng ở Trùng Khánh, Trung Quốc. Nghiên cứu bao gồm quan trắc môi trường, đo các yếu tố sinh lý, phỏng vấn bằng bộ câu hỏi và theo dõi khả năng tự điều chỉnh hành vi trong lao động của người công nhân. Có 5 nhóm công nhân tham gia nghiên cứu là: thợ làm giàn giáo, thợ mộc, thợ khuân vác, thợ làm thạch cao và thợ phụ. 5 nhóm công nhân được phỏng vấn bằng bộ câu hỏi và đo các thông số sinh lý hàng ngày. Có 60 công nhân tham gia nghiên cứu này. Các kết quả cho thấy trong mùa hè nắng nóng, nhiệt độ cầu ướt trung bình là 35,8o. Theo đó, công nhân làm việc trong điều kiện môi trường không đạt tiêu chuẩn của Trung Quốc cũng như thế giới. Trong quá trình nghiên cứu, các nghiên cứu viên đã ghi lại nội dung công việc cũng như khả nặng tự điều chỉnh của công nhân. Người ta nhận thấy rằng nhịp tim trung bình của các công nhân làm các công việc khác nhau thì có sự khác nhau đáng kể, và tỷ lệ trao đổi chất trung bình của thợ phụ thấp hơn đáng kể so với thợ đóng cọc. Các nhóm công nhân khác nhau thì có các biện pháp bảo vệ khác nhau để tránh bị tổn thương do nhiệt.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

        Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, các yếu tố nguy cơ nghề nghiệp trong mọi công việc được quan tâm nhiều hơn. Trong những năm gần đây, nhiệt độ cầu ướt (Wet Bulb Globe Temperature – WBGT) ở nhiều nơi trên thế giới đã đạt mức cao kỉ lục vào mùa hè. Trong môi trường nhiệt độ cao, lao động thể lực với cường độ cao, nếu không được bảo vệ đầy đủ, cơ thể dễ tích nhiệt, dẫn đến các hoạt động bình thường của các cơ quan trong cơ thể bị suy giảm, mất cân bằng nước và điện giải và các vấn đề khác. Khi sự tích nhiệt vượt quá phạm vi điều hòa sinh lý thân nhiệt của con người có thể dẫn đến một số bệnh lý do nhiệt độ cao gây ra. Trong mùa hè 2018, một số trường hợp bệnh lý liên quan đến nhiệt độ đã xảy ra ở thành phố Trùng Khánh, tỉnh Thiểm Tây, tỉnh Giang Tô và khu đặc chính Macao, gây ra nhiều trường hợp tử vong, trong đó có lao động ngoài trời như công nhân xây dựng và công nhân vệ sinh môi trường. Mặc dù, khi công nghệ phát triển, lao động ở một số vị trí trong môi trường khắc nghiệt đã được thay thế bằng máy móc, thiết bị, song vẫn còn có những vị trí lao động thủ công: công nhân xây dựng, công nhân vệ sinh, nhân viên bưu tá ngoài trời. Khi thời tiết nắng nóng ngoài trời vào mùa hè, những lao động này dễ bị tích nhiệt hơn. So với các ngành khác, ngành xây dựng dễ bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ cao dưới bức xạ mặt trời vào mùa hè [1]. Hiện tại, ngành xây dựng của Trung Quốc thiếu các tiêu chuẩn bảo vệ người lao động trong môi trường nhiệt độ cao và trình độ quản lý của ngành xây dựng còn thua xa so với các nước phát triển. Việc bảo vệ người lao động được quy định trong các nghị định như “Nghị định về Cơ quan quản lý các biện pháp phòng chống say nắng và các biện pháp làm mát”. Luật pháp, quy định, tiêu chuẩn và hệ thống bảo vệ  để bảo vệ công nhân xây dựng khỏi các nguy cơ gây ra bởi nhiệt cần được xây dựng và ban hành. Mục đích của nghiên cứu này là điều tra môi trường làm việc tại công trường và tình trạng sức khỏe của công nhân, đồng thời cung cấp tài liệu tham khảo cho việc cung cấp bảo hộ lao động cho người lao động trong môi trường nhiệt độ cao.

2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Điều tra tại hiện trường

        Nghiên cứu này chủ yếu dùng phương pháp điều tra tại hiện trường. Một công trường tại quận Ba Nam, thành phố Trùng Khánh, Trung Quốc được chọn để thực hiện nghiên cứu này từ tháng 7 đến tháng 8 năm 2018. Hơn 500 công nhân làm việc cùng một lúc hàng ngày tại công trường. Khí hậu trên công trường nóng vào mùa hè và lạnh vào mùa đông. Nhiệt độ vào mùa hè chủ yếu là từ 27oC đến 38oC, và nhiệt độ tối đa có thể lên tới 43,8oC. 15 ngày nóng nhất với mức nhiệt trên 35oC đã được chọn để nghiên cứu. Trên công trường, công việc thường chia vào các nhóm: công nhân giàn giáo, thợ phụ, thợ mộc, công nhân khuân vác, công nhân uốn thép, thợ nề… trong đó các nhóm cơ vận động rất đa dạng: nhóm cơ chi trên, chi dưới, và toàn thân. Về chế độ lao động, trong ngày nóng ở mùa hè, quản lý đã cho công nhân làm từ 6h đến 11h và 16h đến 20h, tránh những giờ nóng nhất. Các nghiên cứu thực địa bao gồm đo – quan trắc môi trường và sinh lý, bộ câu hỏi phỏng vấn và quan sát việc tự điều chỉnh hành vi của người lao động. 60 công nhân được chọn ngẫu nhiên làm đối tượng nghiên cứu hàng ngày và liên tục trong 15 ngày.

2.2. Phương pháp đo – quan trắc môi trường lao động

        Theo điều tra tại hiện trường, nhiệt độ tam cầu được chọn để đánh giá môi trường lao động. Nhiệt độ cầu ướt là chỉ số trực tiếp được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay về căng thẳng nhiệt, điều này được đề cập trong các trường hợp thương vong do nhiệt trong quá trình huấn luyện của Hải quân Mỹ [2]. Chỉ số nhiệt độ tam cầu kết hợp 3 thông số bao gồm: Nhiệt độ không khí (Ta), nhiệt độ cầu ướt (Tnw) và nhiệt độ cầu đen (Tg), xem xét 4 thông số môi trường cơ bản là nhiệt độ cầu khô, nhiệt độ cầu ướt, bức xạ nhiệt và tốc độ gió có thể áp dụng cho các môi trường khác nhau. Theo ISO 7243: 2017 [3-6], WBGT được tính bằng công thức :

WBGT=0.7tnw+0.3tg (1) – Ngoài trời không có nắng

WBGT=0.7tnw+0.2tg+0.1ta (2) – Ngoài trời có nắng

        Các công thức này có thể áp dụng cho quần áo bảo hộ lao động bằng vải cotton (khả năng chịu nhiệt của quần áo là 0,6 clo và chỉ số không thấm là im = 0,38). Các loại quần áo khác nhau, đặc biệt là có khả năng chống bay hơi khác nhau, có thể ảnh hưởng khác nhau đến gánh nặng nhiệt. Đối với các chất liệu và dạng quần áo khác nhau với quần áo bảo hộ tiêu chuẩn, các giá trị điều chỉnh quần áo (CAV) được sử dụng trong nhiệt độ WGBT. CAV được thêm vào WGBT (WGBTeff) để ước tính căng thẳng nhiệt do quần áo trong môi trường tương đương.

WGBTeff = WBGT + CAV (3)

        Tại công trường, nhiệt độ cầu ướt, nhiệt độ không khí và nhiệt độ cầu đen và vận tốc gió được đo. Thiết bị đo nhiệt độ cầu ướt di động cầm tay, JTR10A (độ chính xác ± 0,5 oC) được dùng để đo nhiệt độ cầu ướt, nhiệt độ không khí và nhiệt độ cầu. Máy đo gió KIMO model VT100 (độ chính xác ± 0,1m/s) được dùng đo vận tốc gió.

2.3. Phương pháp đo thông số sinh lý

        Mục đích của quản lý an toàn môi trường nhiệt độ cao là theo dõi và kiểm soát tác động của nhiệt độ lên con người và tránh phát sinh các bệnh do nhiệt độ cao. Phản ứng sinh lý của người lao động trong môi trường nhiệt độ cao vô cùng phức tạp, phụ thuộc vào từng cá nhân. Trong quá trình lao động, mồ hôi tiết ra sẽ lấy đi muối và nước của cơ thể. Lượng mồ hôi tiết ra càng nhiều sẽ khiến cơ thể mất nhiều dịch, tăng cô đặc máu, giảm khả năng điều hòa thân nhiệt, tăng nhịp tim, làm giảm hiệu quả công việc; đồng thời huyết áp và thân nhiệt của người lao động cũng bị tăng theo. Cho người lao động nghỉ ngơi khi đạt ngưỡng chịu đựng được thì sau một thời gian cơ thể sẽ điều hòa trở lại. Các thông số sinh lý chính là nhịp tim, huyết áp, nhiệt độ tai và nhiệt độ da. Tỷ lệ trao đổi chất quyết định mức độ thoải mái hoặc mệt mỏi khi tiếp xúc với môi trường nhiệt. Đặc biệt trong thời tiết nắng nóng, một lượng lớn nhiệt chuyển hóa sinh ra do hoạt động của cơ bắp sẽ làm trầm trọng thêm tình trạng căng thẳng nhiệt, một lượng lớn nhiệt cần được tản ra theo cách bay hơi mồ hôi. Nhịp tim như 1 phương pháp thay thế để đo chuyển hóa năng lượng, cho thấy có mối tương quan giữa nhịp tim và trao đổi chất khi hoạt động thể chất cường độ trung bình [7 – 8]. Đồng thời theo ISO 8996:2004, trong trường hợp làm việc tay chân sử dụng các nhóm cơ chính, chỉ với 1 lượng nhỏ tải trọng cơ tĩnh và trong trường hợp không có căng thẳng nhiệt và gánh năng tâm lý, tỷ lệ trao đổi chất có thể đo được ước tính bằng đo nhịp tim khi đang làm việc. Mối quan hệ giữa nhịp tim và và tốc độ trao đổi chất có thể bằng công thức sau:

HR=HR0+RM×(M-M0) (4)

M : tỷ lệ chuyển hóa (W/m2 )

M0: tỷ lệ chuyển hóa cơ bản (khi nghỉ ngơi) (W/ m2 )

RM : tương quan giữa tăng nhịp tim và trao đổi chất

HR0: nhịp tim khi nghỉ ngơi trong điều kiện nhiệt độ trung bình (bpm) 

RM=(HRmax-HR0)/(MWC-M0) (5)

MWC: Công suất làm việc tối đa(W/ m2 )

Nam:MWC=(41.7-0.22A)P0.666 (6)

Nữ:MWC=(35.0-0.22A)P0.666 (7)

HRmax=205-0.62A (8)

A: tuổi (năm)

P: cân nặng (kg)

        Để không làm ảnh hưởng đến công việc bình thường của người lao động, nhóm nghiên cứu sử dụng cảm biến nhịp tim Polar, model A300 (độ chính xác ± 1%) để đo nhịp tim. Ngoài ra dùng nhiệt kế đo tai  Barum IRT6520, máy đo nhiệt độ da DS1922T và máy đo huyết áp điện tử Omron U30 được dùng để đo nhiệt độ tai, nhiệt độ da và huyết áp.

2.4. Bộ câu hỏi

        Việc thu thập thông tin cơ bản của cá nhân bao gồm chiều cao, cân nặng, nhiệt độ cơ thể, huyết áp trung bình, các loại thuốc đang dùng, bệnh sử (nếu có), quần áo lao động, cảm nhận về môi trường làm việc, mong muốn, trình độ văn hóa, chế độ lao động, các đề xuất… Các thông số này phản ánh tình trạng thể chất của công nhân. Ngoài ra còn điều tra về số giờ làm việc, tần suất hút thuốc, uống rượu, các hoạt động giải trí để phản ánh xem người lao động có làm việc quá sức không và lối sống của họ có lành mạnh không. Khảo sát tiếp theo là phân loại công việc của người công nhân, tình hình tại nơi làm việc, loại nước uống, tần suất uống nước và các phương pháp tự điều chỉnh.

2.5. Quá trình tiến hành

        Đầu tiên, một thiết bị đo WBGT được đặt ở nơi làm việc của người lao động lao động để đo môi trường. Sau đó, các nghiên cứu viên hướng dẫn công nhân điền vào bộ câu hỏi và đeo cảm biến nhịp tim lên công nhân, đo huyết áp và nhiệt độ tai. Sau đó công nhân bắt đầu đi làm và  nhịp tim sẽ được đo liên tục và khoảng thời gian ghi là 1 giây. WBGT, nhiệt độ không khí, nhiệt độ cầu ướt, nhiệt độ cầu khô, và tốc độ gió được ghi 30 phút một lần. Sau khi công nhân vào làm việc, các nghiên cứu viên đi quan sát và ghi lại nội dung công việc và phương pháp thực hiện. Sau khi kết thúc làm việc, công nhân được đưa đến một nơi mát mẻ nghỉ ngơi, và đo lại huyết áp, nhiệt độ tai và thu lại cảm biến nhịp tim.

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

        Trong nghiên cứu này, có 16 thợ mộc, 12 thợ làm giàn giáo, 8 thợ khuân vác, 8 thợ phụ và 16 thợ khác, tổng cộng là 60 công nhân. Người trẻ nhất là 27 tuổi, là công nhân duy nhất trong độ tuổi từ 20 đến 30, cao tuổi nhất là 65 tuổi. Có 36 công nhân trong độ tuổi từ 50 đến 70, chiếm 60% số người tham gia nghiên cứu, cho thấy xu hướng già hóa rõ ràng. Có 17 công nhân có tuổi nghề dưới 5 năm, 30 người có tuổi nghề từ 5 đến 20 năm và 13 người có tuổi nghề trên 20 năm. Công nhân có tuổi nghề cao nhất là 50 năm, hiện tại 62 tuổi. Trong quá trình nghiên cứu, có 44 người nói rằng họ cảm thấy khó chịu như chóng mặt, tức ngực và ù tai trong lúc làm việc với nhiệt độ cao vào buổi chiều. Người ta nhận thấy rằng nơi làm việc của người lao động không có lợi cho việc giảm stress nhiệt.

        Ví dụ với thợ làm giàn giáo, vì sự hạn chế của không gian, lại làm việc trên cao nên thợ làm giàn giáo ít uống nước hơn so với công nhân làm việc dưới mặt đất. Công nhân trát tường làm việc trong môi trường thiếu ánh sáng, vì vậy họ muốn làm nhanh công việc để ra khỏi môi trường này do vậy họ cũng uống ít nước hơn. Mặt khác CO2 trong khói thuốc làm giảm lượng O2 trong máu, trong khi uống rượu ảnh hưởng đến khả năng phản ứng và tăng gánh nặng cho gan, làm cơ thể bị suy giảm chức năng. Tuy nhiên, theo nghiên cứu có 38 công nhân có hút thuốc trong giờ nghỉ uống nước. Họ nghĩ rằng hút thuốc sẽ làm giảm căng thẳng nhiệt.

3.1. WBGTeff

Bảng 1. Thông số nhiệt độ môi trường

Ngày

Nhiệt độ cầu đen

Nhiệt độ không khí

Nhiệt độ cầu ướt tự nhiên

Nhiệt độ tam cầu hiệu chỉnh

1

37,7

40,3

39,8

38,4

2

39,0

43,7

41,3

40,2

3

36,7

38,7

38,4

37,3

4

35,0

37,1

36,9

35,6

5

34,2

36,3

36,0

34,8

6

35,8

38,3

37,8

36,5

7

35,0

37,4

36,9

35,7

8

35,9

38,4

38,1

36,6

9

37,0

39,5

38,9

37,7

10

28,0

33,5

32,9

29,6

11

30,4

40,5

38,7

33,3

Trung bình

35,0

38,5

37,8

35,8

 

        Bảng 1 thể hiện giá trị các thông số môi trường trung bình của người lao động trong thời gian làm việc liên tục trong thời gian nghiên cứu. Theo nghiên cứu này, người lao động mặc quần áo làm từ bông hoặc sợi tổng hợp, tương ứng với quần áo bảo hộ lao động và quần áo bằng vải trong phụ lục F của ISO 7243: 2017, cả hai đều không có giá trị điều chỉnh cho quần áo. Ngay cả khi tránh khoảng thời gian giữa trưa nóng bức, WBGTeff  trung bình mỗi ngày vẫn cao tới 29,6 ~ 40,2 ° C và nhiệt độ không khí trung bình trong mười lăm ngày là 38,4°C nhiệt độ trung bình cầu ướt là 37,7°C. Theo ISO 7243 và ISO8996, [4,6]. Tỷ lệ trao đổi chất của một số công nhân được điều tra chủ yếu là tỷ lệ trao đổi chất trung bình (300W) và tỷ lệ trao đổi chất cao (415W). Đối với đối tượng là công nhân xây dựng lâu năm, tỷ lệ trao đổi chất vừa phải, tại thời điểm đó giá trị giới hạn tham chiếu WBGT cho những người thích nghi với nhiệt là 28,0°C. Theo một số tiêu chuẩn khuyến nghị của Trung Quốc, chẳng hạn như GB / T 17244, GB / T 4200 và GBZT 299.3, người lao động trong môi trường nhiệt bất lợi có khả năng gây nguy hiểm cho sức khỏe. Đòi hỏi các nhà quản lý thực hiện các biện pháp bảo vệ sức khỏe nghề nghiệp và chống say nắng, theo dõi căng thẳng nhiệt và giảm phản ứng căng thẳng do nhiệt và đơn vị tỷ lệ thời gian bằng cách điều chỉnh hệ thống nghỉ ngơi làm việc ở nhiệt độ cao.

3.2. Nhịp tim và tỷ lệ chuyển hóa

Bảng 2. Nhịp tim trung bình và tỷ lệ chuyển hóa của công nhân

 

 

Công việc

Trung bình nhịp tim khi nghỉ ngơi

Trung bình nhịp tim trong lúc làm việc

Trung bình nhịp tim khi nghỉ giữa ca

Trung bình nhịp tim nhỏ nhất

Trung bình nhịp tim cao nhất

Tỷ lệ chuyển hóa trung bình

Làm giàn giáo ngoài trời

82,74

103,35

20,61

74,29

128,86

160,93

Làm giàn giáo trong công trình

79,49

96,42

16,94

69,00

122,40

128,97

Thợ mộc

85,32

106,77

21,45

73,38

135,31

159,36

Khuân vác

82,38

101,55

19,16

74,50

131,50

139,54

Thợ phụ

77,21

87,86

10,65

67,25

109,00

98,13

Thợ sửa ống nước

84,69

101,44

16,76

74,40

123,00

132,65

Thợ hồ

87,99

101,98

14,00

74,00

141,75

127,16

Thợ đóng cọc

100,57

126,60

26,03

90,50

150,50

201,10

 

       Bảng 2 cho thấy nhịp tim trung bình của người lao động trong các loại công việc khác nhau và nhịp tim và tốc độ trao đổi chất trung bình cao nhất và thấp nhất trong một phút trong nghiên cứu. Công việc của những người thợ làm giàn giáo là lắp đặt, tháo rời và vận chuyển ống thép. Môi trường làm việc của công nhân làm giàn giáo bên ngoài bất lợi, và tỷ lệ trao đổi chất trung bình, nhịp tim trung bình khi làm việc và nghỉ ngơi rõ ràng là cao hơn so với công việc giàn giáo trong công trình; thợ mộc cắt ván gỗ và đóng khuôn bê tông. Làm việc trong những khu vực có bóng râm, sự chênh lệch nhịp tim trung bình giữa làm việc và nghỉ ngơi là 21,45bpm. Công việc của người thợ phụ chủ yếu là phân loại và tái chế các thanh thép, khuôn gỗ và đục rãnh. Làm việc trong những khu vực có bóng râm, sự chênh lệch nhịp tim trung bình giữa làm việc và nghỉ ngơi là 10,65bpm. Cường độ lao động thấp;Công nhân chủ yếu là khuân vác vật liệu nặng như dầm chữ I, cát, hầu hết làm việc ở nơi khuất tầm nhìn, cường độ lao động lớn, nhưng thời gian làm việc không liên tục. Nhịp tim tức thời khi di chuyển vật nặng tăng lên rất nhiều. Họ nghỉ ngơi trong khi chờ cẩu tháp vận chuyển hàng hóa nặng. Môi trường làm việc của họ tốt hơn so với ngoài trời nóng bức, sự chênh lệch nhịp tim trung bình giữa làm việc và nghỉ ngơi là 19,16bpm. Thợ hồ chủ yếu hoạt động cử động chi trên và làm việc trong nhà, mức chênh lệch nhịp tim trung bình giữa làm việc và nghỉ ngơi là 14,00bpm. Công việc của thợ sửa ống nước chủ yếu là đào hào, đào đường ống chôn lấp và lắp đặt đường ống. Họ làm việc trong nhà, sự chênh lệch nhịp tim trung bình giữa làm việc và nghỉ ngơi là 16,76bpm; Công nhân giàn khoan vận hành mũi khoan cọc để đóng cọc hàn, họ phải cầm mũi khoan bằng tay trong thời gian dài. Cường độ lao động cao và làm việc trong môi trường nắng nóng ngoài trời. Nhịp tim trung bình khi làm việc là 126,60bpm và nhịp tim trung bình khi nghỉ ngơi là 26,03bpm, nhịp tim trung bình trong thời gian làm việc cao hơn so với khi nghỉ ngơi khoảng 26,03bpm; Theo ISO8996, công việc này được phân loại là mức tỷ lệ trao đổi chất cao 200 ~ 260 W/m2) [4]; Các công nhân làm thép làm việc trong kho thép ngoài trời. Các thanh thép được nhà máy vận chuyển đến công trình được tạo hình theo yêu cầu của quá trình thi công. Do đơn vị tổ chức thi công chỉ bố trí một số lượng nhỏ công nhân thép làm việc tại hiện trường trong quá trình khảo sát, nên để không ảnh hưởng đến tiến độ của dự án, chỉ có một công nhân thép tham gia khảo sát. Nhịp tim trung bình khi nghỉ ngơi của người này là 87,70bpm, nhịp tim trung bình khi làm việc là 116,72 bpm và nhịp tim trung bình thay đổi 29,02 bpm. Tốc độ trao đổi chất của công nhân này đạt 213w/m2. Tỷ lệ trao đổi chất trung bình của tất cả công nhân là 151,21 W/m2.

3.3. Tỷ lệ trao đổi chất trung bình với các loại công việc khác nhau

Hình 1. Tỷ lệ trao đổi chất ở công nhân làm thép

Hình 2. Tỷ lệ trao đổi chất ở thợ mộc

Hình 3. Tỷ lệ trao đổi chất ở thợ làm giàn giáo ngoài trời

Hình 4. Tỷ lệ trao đổi chất ở thợ khuân vác

Hình 5. Tỷ lệ trao đổi chất ở thợ phụ

        Tăng nhịp tim chủ yếu là do căng thẳng nhiệt và tải trọng động, trong điều kiện nhiệt trung bình. Như được thể hiện trong Hình 1đến 4, nhịp tim khi nghỉ ngơi và nhịp tim của người lao động tại nơi làm việc cũng như thông tin về tuổi và cân nặng trong công thức, đồ thị tỷ lệ trao đổi chất trung bình của tất cả các công nhân. So sánh với tỷ lệ trao đổi chất trung bình với các loại công việc khác nhau, có thể thấy rằng công nhân thép và công nhân giàn đóng cọc là công việc vất vả nhất trong khảo sát này, vì họ phải làm việc trong môi trường tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng mặt trời, ngoài ra tỷ lệ trao đổi chất của thợ phụ là nhỏ nhất, phù hợp với kết quả quan sát của các nhà nghiên cứu, cường độ lao động của họ tương đối thấp, không chịu tác dụng của ánh nắng trực tiếp. Đồ thị trong hình là tỷ lệ trao đổi chất trung bình của tất cả người lao động.

Bảng 3. Sự quan trọng của mức độ trao đổi chất giữa các nhóm công nhân khác nhau

 

1

2

3

4

5

6

7

8

1

 

0,004

0,000

0,030

0,870

0,000

0,000

0,052

2

 

 

0,110

0,657

0,459

0,006

0,045

0,497

3

 

 

 

0,067

0,043

0,048

0,509

0,308

4

 

 

 

 

0,764

0,004

0,029

0,831

5

 

 

 

 

 

0,003

0,019

0,921

6

 

 

 

 

 

 

0,122

0,003

7

 

 

 

 

 

 

 

0,016

8

 

 

 

 

 

 

 

 

           1.Thợ phụ                                                      5.Thợ hồ

           2.Thợ khuân vác                                           6.Thợ đóng cọc

           3.Thợ mộc                                                     7.Thợ làm giàn giáo ngoài trời

           4.Thợ sửa ống nước                                      8.Thợ làm giàn giáo trong công trình

        Từ bảng 3 có thể thấy rằng có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ trao đổi chất trung bình giữa thợ phụ và người khuân vác, công nhân đóng cọc và công nhân giàn giáo ngoài trời (P< 0,005). Do cường độ lao động thấp và hầu hết những thợ phụ không phải làm việc dưới ánh nắng trực tiếp nên tỷ lệ trao đổi chất trung bình của thợ phụ thấp hơn đáng kể so với những công nhân khác. Ngược lại, tỷ lệ trao đổi chất trung bình của người thợ đóng cọc cao hơn đáng kể so với công nhân khác (P <0,01), do cường độ lao động cao và nơi làm việc của họ bị ánh nắng trực tiếp chiếu vào.

4. BÀN LUẬN VÀ KẾT LUẬN

        Trong năm 2018, Trùng Khánh đã nhiều lần phát đi tín hiệu "cảnh báo mức độ đỏ về nhiệt độ cao", nhiệt độ ở nhiều quận và huyện đạt từ 40,0°C trở lên. Công nhân đang ở trong môi trường nhiệt cao, hơn các tiêu chuẩn ở Trung Quốc và các tiêu chuẩn quốc tế, rất có thể gây nguy hiểm cho sức khỏe của người lao động và gây ra tổn thương do nhiệt. Mặc dù có sự khác biệt đáng kể giữa các cá nhân về tỷ lệ trao đổi chất giữa những người lao động - người ta thấy rằng xu hướng của nhịp tim và tỷ lệ trao đổi chất của những người lao động trong cùng một loại công việc là tương tự nhau. Và tỷ lệ trao đổi chất trung bình của những người lao động với các công việc khác nhau rõ ràng là khác biệt. Các loại công việc khác nhau có thể đối mặt với những rủi ro khác nhau về tổn thương do nhiệt. Chẳng hạn như công nhân thép, công nhân đóng cọc, giàn giáo làm việc bên ngoài trời và những người có cường độ lao động tương đối cao nên nhận được các biện pháp bảo vệ nhiệt toàn diện hơn. Nên đeo các dụng cụ theo dõi các thông số sinh lý liên quan để bảo vệ an toàn cho người lao động trong trường hợp mắc bệnh do nhiệt. Việc điều chỉnh công nhân có thể bị cản trở bởi một số hạn chế nhất định trên công trường. Mặt khác, những công việc như làm việc trên giàn giáo hoặc trát tường trong không gian kém ánh sáng sẽ tác động đến tần suất uống rượu hoặc nghỉ ngơi của người lao động. Tác động của hạn chế về không gian nơi làm việc đến khả năng tự điều chỉnh của người lao động cũng là một hướng nghiên cứu tiềm năng.

TÀI LIỆU  THAM KHẢO

  1. Chen D X, Bai S G, Zeng Z S. 1992. Classification of physical strength of construction workers. Chinese Journal of Industrial Hygiene and Occupational Diseases. (6): 375-7. Chinese Journal of Industrial Hygiene and Occupational Diseases.
  2. Yaglou C P, Minard D. 1957. Control of heat casualties at military training centers. Amaarchives of Industrial Health. 16(4): 302-16. Control of heat casualties at military training centers. Amaarchives of Industrial Health
  3. Chinese standard. 2008. Classified standard of working in the hot environment (GB/T 4200-2008). Tiêu chuẩn Trung Quốc. 2008. Classified standard of working in the hot environment (GB/T 4200-2008)
  4. Chinese standard. 2010. Classification of occupational hazardsat ISO. 2004. Ergonomics of the thermal environment – Determination of metabolic rate (ISO 8996:2004). Classification of occupational hazardsat ISO. 2004. Ergonomics of the thermal environment – Determination of metabolic rate (ISO 8996:2004)
  5. ISO. 2017. Ergonomics of the thermal environment – Assessment of heat stress using the WBGT (wet blub globe temperature) index (ISO 7243:2017). ISO.2007. Ergonomics of the thermal environment – Assessment of heat stress using the WBGT (wet blub globe temperature) index (ISO 7243:2017)
  6. Montoye H J, Taylor H L. 1984. Measurement of physical activity in population studies: a review. Human Biology. 56(2): 195-216. Measurement of physical activity in population studies: a review. Human Biology.
  7. Li Y Q. 2016. Dynamic human heat strain prediction in hot working environment (medium metabolic rate and above). Ph.D. Thesis, Chongqing University, China. Dynamic human heat strain prediction in hot working environment (medium metabolic rate and above), Luận văn Tiến sĩ, Đại Học Trùng Khánh, Trung Quốc.
  8. Xu M N. 2013. Research on the adaptation of prediction heat strain model and safe exposure time evaluation. Ph.D. Thesis, Chongqing University, China. Research on the adaptation of prediction heat strain model and safe exposure time evaluation, Luận văn Tiến sĩ, Đại học Trùng Khánh, Trung Quốc.
  9. Yaglou C P, Minard D. 1957. Control of heat casualties at military training centers. Amaarchives of Industrial Health. 16(4): 302-16. Control of heat casualties at military training centers. Amaarchives of Industrial Health
  10. Yao, R., B. Li, and J. Liu, A theoretical adaptive model of thermal comfort - Adaptive Predicted Mean Vote (aPMV). Building and Environment, 2009. 44(10): p. 2089-2096. A theoretical adaptive model of thermal comfort - Adaptive Predicted Mean Vote (aPMV). Building and Environment, 2009
  11. Yang, Y., et al., A study of adaptive thermal comfort in a well-controlled climate chamber. A study of adaptive thermal comfort in a well-controlled climate chamber. Applied Thermal Engineering, 2015.

 

Người dịch:Bs. Trần Trọng Hiếu

Nguồn:https://www.e3s-conferences.org/articles/e3sconf/pdf/2019/06/e3sconf_reee2018_03005.pdf

 

KHOA TÂM SINH LÝ LAO ĐỘNG VÀ ECGÔNÔMI

Điện thoại:         (84-24)-38213491*137

Email:                tamsinhlyecgonomi@gmail.com

Hotline tư vấn:  0904284487